Vữa xây dựng là gì?
Vữa xây dựng là hỗn hợp đồng nhất gồm chất kết dính (xi măng, vôi), cốt liệu mịn (cát) và nước, không có cốt liệu thô như bê tông. Vữa đóng vai trò liên kết các viên gạch, đá, tạo bề mặt hoàn thiện và bảo vệ kết cấu. Tùy công dụng, vữa được phân loại thành vữa xây, vữa trát, vữa lát và vữa chuyên dụng.
Phân loại vữa theo mác cường độ
Mác vữa ký hiệu theo cường độ chịu nén 28 ngày (daN/cm²): Vữa M50 dùng cho công việc trát dày, lấy phẳng nền; Vữa M75 dùng xây tường thông thường, gạch đặc, gạch AAC; Vữa M100 dùng xây gần, lát gạch nền; Vữa M150–M200 dùng cho kết cấu chịu lực, đập mối vữa, neo vít anchor.
Tỷ lệ trộn vữa tiêu chuẩn
Vữa xây tường gạch đất nung (M75): 1 phần xi măng PCB 30/40 + 5–6 phần cát (theo thể tích). Vữa trát tường ngoài (M100): 1:4 (xi măng:cát). Vữa trát trong nhà (M75): 1:5. Vữa lát gạch nền thông thường: 1:3 dày 2–3cm, sau đó dùng keo dán gạch. Vữa chà rỗng: xi măng trắng + cát mịn + nước hoặc dùng bột chà rỗng chuyên dụng.
Keo dán gạch chuyên dụng
Keo dán gạch (tile adhesive) theo tiêu chuẩn TCVN 7899:2008 và EN 12004 được phân loại: C1 (keo xi măng cơ bản) dùng cho gạch nhẹ nền khô; C2 (keo cải tiến) dùng cho granite, đá nặng; T (thixotropic — chống trượt) dùng ốp tường đứng; E (epoxy) dùng cho môi trường ăn mòn, bể bơi; F (fast sét — đông cứng nhanh) dùng khí cần tiến độ. Keo C2TE là tiêu chuẩn phổ biến nhất cho thi công gạch granite trong nhà.
Vữa chuyên dụng
Vữa không có ngót (non-shrink grout): xi măng + phụ gia trương nở, không có ngót khí đông cứng. Dùng đặt máy móc thiết bị, neo giàn, bù lún đế máy. Vữa tự sàn bằng (self-leveling): độ chảy cao, tự tạo mặt phẳng, dùng lót sàn trước hoàn thiện. Vữa phun (shotcrete/gunite): phun áp lực cao, dùng giá cố mái hầm, taluy đường, bể chứa. Vữa chịu nhiệt: xi măng aluminat + cốt liệu chịu lửa, dùng lót lò, ống khói.
Cát xây dựng cho vữa
Chất lượng cát ảnh hưởng lớn đến vữa: Cát vàng (cát sông) hạt tròn đều, độ sạch cao, phù hợp trát và xây. Cát xây (cát đen) lẫn đất sét nhiều hơn, chỉ dùng xây tường không yêu cầu cao. Mô đun độ lớn cát M = 1,0–2,2 cho vữa. Hàm lượng bùn sét ≤3% theo khối lượng. Cần rây quá sàng 5mm trước khi dùng. Tiêu chuẩn: TCVN 7570:2006 (cốt liệu nhỏ cho vữa và bê tông).
Kỹ thuật thi công vữa
Trát tường đúng kỹ thuật gồm 3 lớp: lớp bám (bonding coat) mỏng 2–3mm phun hoặc quét lên bề mặt đã tưới ẩm; lớp trát dày (scratch coat) 10–15mm; lớp hoàn thiện (finish coat) 3–5mm. Bề mặt cần tưới ẩm trước khi trát, tránh trát trực tiếp lên bề mặt khô. Dưỡng ẩm vữa trát tối thiểu 3–5 ngày sau thi công để tránh nứt có.
Câu hỏi thường gặp về vữa xây dựng
Vữa xi măng và keo dán gạch khác nhau thế nào? Vữa xi măng truyền thống cần kính nghiệm để đảm bảo độ dày đều và bám dính tốt. Keo dán gạch chuyên dụng dễ thi công hơn, bám dính mạnh hơn và chịu nước tốt hơn, khuyến nghị cho gạch granite và đá ốp.
Tại sao vữa trát bị nứt? Nguyên nhân phổ biến: cát lẫn nhiều đất sét, tỷ lệ xi măng quá cao, không dưỡng ẩm sau trát, trát trên nền quá khô hoặc quá ẩm, trát một lớp quá dày (>25mm).
Mác vữa nào phù hợp xây gạch AAC? Vữa M75 hoặc dùng vữa mỏng chuyên dụng cho gạch AAC (thin-bed mortar), lớp dày 2–3mm thay vì 10–15mm của vữa thông thường.
Thời gian sử dụng vữa sau khi trộn? Vữa xi măng cần dùng trong vòng 1–2 giờ sau khi trộn. Không thêm nước vào vữa đã bắt đầu đông cứng.
Xem thêm
- Xi măng xây dựng — chọn loại xi măng cho vữa
- Gạch nung xây dựng — kỹ thuật xây với vữa xi măng
- Gạch không nung AAC — vữa mỏng chuyên dụng
- Keo và sealant xây dựng — keo dán gạch C2TE