Bỏ qua nội dung chính
Kiến thức vật liệu

Thử nghiệm SBI vật liệu xây dựng là gì?

Thử nghiệm SBI (Single Burning Item) theo EN 13823 là phương pháp tiêu chuẩn để xếp hạng cấp cháy cho vật liệu xây dựng Châu Âu. Các chỉ số FIGRA, THR600s và LFS từ SBI quyết định vật liệu được xếp vào cấp A2, B, C hay D.

Dùng cho mua hàng vật liệu So sánh giá, quy cách và nguồn cung trước khi chốt đơn. Gửi RFQ nhanh
Thử nghiệm SBI vật liệu xây dựng là gì?

Thử nghiệm SBI là gì?

SBI (Single Burning Item – Vật phát lửa đơn) là phương pháp thử nghiệm cháy tiêu chuẩn được quy định trong EN 13823, dùng để đánh giá khả năng lan truyền lửa và tỏa nhiệt của vật liệu xây dựng. Đây là thử nghiệm bắt buộc để phân loại vật liệu vào các cấp cháy A2, B, C, D theo hệ thống EN 13501-1.

Quy trình thử nghiệm SBI

Thử nghiệm được thực hiện trong phòng thí nghiệm kiểm soát theo các bước sau:

  • Chuan bị mau: Mau vật liệu được lắp thành hai tấm đất vuong góc với nhau (góc 90°), kích thước chuan 1,5 m x 1,0 m và 1,5 m x 0,5 m.
  • Vi tri đất mau: Hai tấm mau được dùng ở góc buong thứ, phản ánh Điều kiện thực tế khí vật liệu op tường ở góc phòng hoặc hành lang.
  • Nguồn nhiệt: Một đầu dot prop-butan công suất 30 kW được đặt ở góc mặt in của hai tấm mau, bắt cháy ở 120 giây đầu.
  • Thời gian độ: Toàn bộ quá trình thử nghiệm keo dài 20 phút (1260 giây). Đầy đủ thời gian để đánh giá ca giai đoạn phát triển lua lan giai đoạn lua on định.
  • Thứ thấp đủ liệu: Cam biển độ nhiệt, độ tốc độ đồng khí, độ nong độ CO2 và CO, camera quan sắt sự lan truyền lửa.

Các chỉ số đánh giá trong SBI

Kết quả thử nghiệm SBI được tính toán thành ba chỉ số chính quyết định cấp cháy của vật liệu:

  • FIGRA (Fire Growth Rate Index – Chỉ số tốc độ tầng trường lua): Đo bằng đơn vị W/s, tính bảng ty le công suất nhiệt cực đại trên thời gian đất công suất độ. FIGRA cang thấp, vật liệu cang ít nguy hiểm vi lua tầng trường chậm. Đây là chỉ số quyết định chính để phân cấp A2, B, C, D.
  • THR600s (Total Heat Release in 600 seconds): Tổng lượng nhiệt tỏa ra của vật liệu trong 600 giây đầu, đo bằng MJ. Phản ánh tổng năng lượng cháy mà vật liệu cung cấp cho dầm cháy, ảnh hưởng đến khả năng kie soat và đáp tắt.
  • LFS (Lateral Fire Spread – Lan truyền lửa ngang): Đánh giá xem lua có lan ra đến mep ngoài của mau thử nghiệm hay không. Neu lan tới mep (LFS reaches edge of specimen), vật liệu bị xử lý nghiem khác hơn trong phân cấp.

Ngoài ba chỉ số trên, thử nghiệm còn độ thêm SMOGRA (tốc độ sàn sinh khỏi) và tổng thể tích khỏi để xep hang thêm cấp khỏi (s1, s2, s3) và cấp nhờ giot cháy (d0, d1, d2).

Nguong phân cấp theo kết quả SBI

  • Cấp A2: FIGRA ≤ 120 W/s VÀ THR600s ≤ 7,5 MJ VÀ LFS không chậm mep.
  • Cấp B: FIGRA ≤ 120 W/s VÀ THR600s ≤ 7,5 MJ (LFS có thể chậm mep).
  • Cấp C: FIGRA ≤ 250 W/s.
  • Cấp D: FIGRA ≤ 750 W/s.
  • Cấp E: Không cần SBI, chỉ cần vượt quá thử nghiệm khả năng bắt cháy (Ignitability) theo EN ISO 11925-2.
  • Cấp F: Không Đạt yêu cầu hoặc chứa thử nghiệm.

Vì sao SBI quan trọng?

Trước khi có SBI, vật liệu xây dựng ở Châu Âu được thử nghiệm bảng nhiều phương pháp khác nhau tuy tung nước, dẫn đến kết quả không tường đường. SBI được xây dựng để tạo một ngọn ngu chung giữa các quốc gia thành viên EU, dầm bao răng bắt kỹ vật liệu nao đất cấp cháy của Duc cung được công nhân ở Pháp, Ha Lan hay Việt Nam (thông quá Việc áp dụng EN 13501-1).

Kết quả SBI phải được ghi ro trong chung nhân sản phẩm (Declaration of Performance – DoP) theo quy định EU 305/2011 trước khi vật liệu được dựa vào thị trường. Đổi với các đủ an tại Việt Nam sử dụng vật liệu nhập khau từ Châu Âu, kỹ sư PCCC cần yêu cầu cung cấp chung chỉ SBI để xac nhân cấp cháy.

Giới hạn của thử nghiệm SBI

SBI phù hợp để đánh giá vật liệu op bề mặt (tường, tran, sàn). Tuy nhiên, SBI không đánh giá khả năng chịu lửa theo thời gian (REI) – Đây là phạm vi của thử nghiệm lo lua theo ISO 834. Ngoài ra, SBI không phản ánh Điều kiện dầm cháy thất sự khí có nhiều vật liệu cháy cùng lúc. Độ vay, SBI chỉ là một trong nhiều công cũ đánh giá an toàn cháy toàn điện cho công trình.