Bỏ qua nội dung chính
Kiến thức vật liệu

Nhiệt độ tự bốc cháy AIT là gì trong an toàn vật liệu?

AIT (Auto-Ignition Temperature) là nhiệt độ tối thiểu để vật liệu từ bắt lua mà không cần nguồn lửa tác động bên ngoài. Hiệu AIT giúp đánh giá mức độ nguy hiểm cháy của vật liệu và lựa chọn biện pháp bảo vệ phù hợp.

Dùng cho mua hàng vật liệu So sánh giá, quy cách và nguồn cung trước khi chốt đơn. Gửi RFQ nhanh
Nhiệt độ tự bốc cháy AIT là gì trong an toàn vật liệu?

AIT – Nhiệt độ tự bốc cháy là gì?

AIT (Auto-Ignition Temperature – Nhiệt độ tự bốc cháy) là nhiệt độ tối thiểu mà tại đó một vật liệu hoặc hỗn hợp khí-hơi sẽ từ đồng bắt cháy ma không cần tiếp xuc với nguồn lua ngoài nhu tia lua, ngọn nhựa hoặc buat lua.

Khí nhiệt độ môi trường xung quanh vượt quá AIT của vật liệu, các phần tử cháy được trong vật liệu sẽ phản ứng với oxy không khí và khai hóa chuoi phản ứng cháy từ phát. Đây là hiện tường rất nguy hiểm trong dầm cháy vi nó xây ra ngày ca khí không còn nguồn lua nhu tia điện, ngọn đến, bep gas.

Phân biệt AIT với nhiệt bóc cháy (flash point và fire point)

  • Flash point (Nhiệt độ chop sáng): Nhiệt độ thấp nhất mà tại đó hỏi vật liệu tạo thành hơn hợp để cháy với không khí, những khí có lua mỏ đất vào mới cháy thoang quá rồi tắt. Đây là nguong canh bao số bộ.
  • Fire point (Nhiệt bóc cháy có duy trì): Nhiệt độ cao hơn flash point một chut, tại độ vật liệu bắt cháy và cháy được duy trì ít nhất 5 giây sau khi bộ nguồn lua. Cần nguồn lua bên ngoài.
  • AIT (Nhiệt độ tự bốc cháy): Cao hơn nhiều số với flash point và fire point, những không cần bắt kỹ nguồn lua nao từ bên ngoài. Vật liệu tự chảy khí đất nhiệt độ nay.

Nguyên tắc chung: AIT cang thấp, vật liệu cang để xây ra cháy nó từ phát trong Điều kiện nhiệt độ cao, dẫn đến nguy có dầm cháy nghiem trong hơn.

Giá trị AIT của một số vật liệu phổ biến

  • Xop EPS (polystyrene): AIT khoảng 350°C – để tự bốc cháy trong dầm cháy phát triển.
  • Xop PU foam (polyurethane): AIT khoảng 310–400°C – nguy hiểm cao, sàn sinh nhiều khỏi doc khí cháy.
  • Gỗ tự nhiên: AIT khoảng 250–270°C – thấp hơn EPS, những gỗ cháy chậm hơn EPS độ mật độ cao.
  • Cotton, vài soi tự nhiên: AIT khoảng 210–250°C – rất thấp, để tự bốc cháy khí tiếp xuc nhiệt truyền dan.
  • Nhiên liệu diesel: AIT khoảng 250°C – cần quan tấm Khi thiết kế bai xe, khó xang đầu.
  • Bê tông, gach, thép, kính: Không có AIT – các vật liệu nay không cháy, không thấm giá vào quá trình tự bốc cháy.

Phương pháp xác định AIT

AIT được xác định trong phòng thí nghiệm theo tiêu chuẩn ASTM E659 (Standard Test Method for Autoignition Temperature of Chemicals). Quy trình thử nghiệm đất mau vào binh nung khí oxy, tầng dẫn nhiệt độ và ghi nhân nhiệt độ tại độ vật liệu từ bắt cháy không có nguồn kích hoạt bên ngoài.

Lưu y: AIT có thể thay đổi theo áp suất, nong độ oxy và hình dạng vật liệu. Trong thực tế, nhiệt đo trong phòng cháy khí phát triển có thể vượt 800–1000°C, những ngày ở giai đoạn som (200–400°C) cung đủ để kích hoạt AIT của nhiều vật liệu xây dựng phổ biến.

Tầng AIT để tầng an toàn phòng cháy

Đổi với vật liệu có AIT thấp hoặc vật liệu cháy được những bắt buộc phải dùng trong công trình, có thể áp dụng biện pháp tầng AIT hiệu quả:

  • Xử lý chất chống cháy (flame retardant): Thấm chất phụ gia hoặc pha trom vào vật liệu (vi đủ: gỗ xử lý FR, nhựa có thêm chất chống cháy halogen-free). Chất chống cháy hoạt động bảng cách tầng nhiệt độ cần thiết để khỏi đồng phản ứng cháy hoặc ngat chuoi phản ứng.
  • Boc boc vật liệu để cháy: Boc gỗ, PU foam bảng lớp thạch cao, xi măng hoặc các lớp chống cháy khác để ngăn truyền nhiệt trực tiếp.
  • Kiểm soát nhiệt độ môi trường: Hệ thống thông gió, làm mặt khu vực nguy hiểm, giảm nhiệt độ xung quanh xuong dưới AIT của vật liệu hiện điện.

Y nghĩa với thiết kế công trình

Trong thiết kế phòng cháy, AIT là thông số quan trọng để phân tích kích bản dầm cháy: xác định vi tri khả năng bắt cháy lan thứ hai (secondary ignition), tính toán thời gian thoát nạn và lựa chọn vật liệu noi thất phù hợp. Kỹ sư phòng cháy cần tham khảo AIT của các vật liệu sử dụng trong công trình, đặc biệt là ở các khu vực nhiệt độ vận hành cao nhu bep công nghiệp, xuong được và khó tầng của hang.