Định nghĩa
Gạch xi măng cốt liệu (GXMCL) là loại gạch không nung sản xuất từ xi măng Portland, cát, đá dăm hoặc xỉ và nước, đóng khuôn rung ép rồi dưỡng hộ tự nhiên hoặc hơi nước ở áp suất thường. Quy trình thi công GXMCL khác biệt so với gạch AAC về vữa liên kết, xử lý bề mặt và phương pháp kiểm soát mạch vữa.
Chuẩn bị trước thi công
Kiểm tra gạch nhập công trình: gạch phải đạt TCVN 6477:2016, cường độ nén ≥5 MPa (loại M5) đến ≥15 MPa (loại M15), sai số kích thước ≤3 mm về chiều dài và rộng, ≤2 mm về chiều cao. Gạch có vết nứt, sứt góc >10 mm hoặc độ cong vênh >3 mm phải loại bỏ.
Dưỡng ẩm gạch trước xây: tưới nước đều 30–60 phút trước thi công, đảm bảo gạch đủ ẩm (độ ẩm bề mặt 10–15%) nhưng không đọng nước. Khác với gạch AAC chỉ phun sương nhẹ, GXMCL cần thấm ẩm sâu hơn vì cấu trúc đặc hơn và khả năng hút nước cao hơn.
Vữa xây gạch xi măng cốt liệu
GXMCL dùng vữa xi măng–cát thông thường mác M50–M100, không dùng keo thin-bed như AAC. Tỷ lệ trộn: xi măng PC40 : cát vàng hạt mịn = 1:4 đến 1:6 (theo thể tích), nước/xi măng = 0,45–0,55. Chiều dày mạch vữa ngang 10–15 mm, mạch đứng 8–12 mm.
Vữa xây phải đạt độ sụt 6–8 cm (thử bằng côn tiêu chuẩn TCVN 3121-3:2003) và dùng trong 90–120 phút sau trộn. Vữa bị khô hoặc đã quá thời gian sử dụng không được pha thêm nước để dùng lại — pha thêm nước làm giảm cường độ và tăng co ngót.
Quy trình thi công tường gạch xi măng cốt liệu
Bước 1 — Định vị và căng dây: xác định tim tường, căng dây ngang từng lớp gạch theo thước tầm, kiểm tra vuông góc bằng thước ke. Sai số cho phép: ±5 mm theo chiều thẳng đứng và ±3 mm theo chiều ngang trên mỗi tầng lầu.
Bước 2 — Xây lớp chân tường: đặt lớp gạch chân không vữa để kiểm tra mô-đun chiều cao, sau đó trải lớp vữa đầu tiên 15–20 mm và đặt gạch. Lớp chân tường tiếp xúc sàn bê tông phải dùng vữa mác ≥M75 và đặt lớp giấy dầu cách ẩm nếu tường nội thất tiếp xúc độ ẩm cao.
Bước 3 — Xây thân tường: xây so le mạch đứng tối thiểu 1/4 chiều dài gạch (T ≥ L/4). Điền đầy mạch đứng và ngang; mạch vữa không được rỗng quá 5% diện tích mặt gạch. Kiểm tra độ thẳng đứng bằng dây dọi sau mỗi 3–4 lớp gạch.
Bước 4 — Xử lý góc và lanh-tô: góc tường và trụ xây theo kiểu gạch chéo hoa quả (quy tắc liên kết 3/4 + 1/4). Lanh-tô thép hoặc bê tông cốt thép đặt gối vào tường ≥200 mm mỗi bên, chờ 24h đóng rắn trước khi xây tiếp phần tường bên trên.
Khác biệt so với thi công gạch AAC
| Yếu tố | Gạch xi măng cốt liệu | Gạch AAC |
|---|---|---|
| Loại vữa/keo xây | Vữa xi măng–cát M50–M100 | Keo thin-bed polymer-modified |
| Chiều dày mạch | 10–15 mm (ngang), 8–12 mm (đứng) | 1–3 mm (tất cả mạch) |
| Dưỡng ẩm gạch trước xây | Ngâm/tưới 30–60 phút | Phun sương nhẹ 5–10 phút |
| Cắt, đục gạch | Máy cắt đĩa, đục thủ công | Cưa tay AAC, bào phẳng bằng bàn chà |
| Trát vữa bề mặt | Vữa xi măng–cát trát thông thường 15–20 mm | Vữa mỏng chuyên dụng hoặc sơn trực tiếp |
| Năng suất xây (m²/ngày/thợ) | 8–12 m² | 15–25 m² |
| Tiêu thụ xi măng | Cao (vữa mạch dày) | Thấp (keo thin-bed ít vật liệu) |
Trát và hoàn thiện bề mặt
Sau khi xây xong tối thiểu 3 ngày, bắt đầu trát vữa lớp lót (scratch coat) dày 8–12 mm vữa xi măng–cát mác M50, kéo nhám bề mặt để tăng bám dính cho lớp hoàn thiện. Sau 24h, trát lớp hoàn thiện (finish coat) 5–8 mm; tổng chiều dày trát hai lớp 13–20 mm.
Khác với AAC có thể dùng vữa trát mỏng 3–5 mm do bề mặt phẳng, GXMCL thường cần trát dày hơn vì sai số kích thước và độ gồ ghề bề mặt cao hơn. Chi phí trát tăng kéo theo tổng chi phí hoàn thiện cao hơn AAC khoảng 20–30%.
Câu hỏi thường gặp
- Có thể dùng keo thin-bed AAC để xây gạch xi măng cốt liệu không?
- Không khuyến cáo — gạch xi măng cốt liệu có cấu trúc đặc, độ thấm hút nước thấp hơn AAC, nên keo thin-bed bám dính kém hơn; cần dùng vữa xi măng truyền thống hoặc keo C2T chuyên dụng.
- GXMCL có cần trát vữa không?
- Có — bề mặt GXMCL sau khi xây thường không đủ phẳng và nhẵn để sơn trực tiếp, nên phải trát vữa xi măng–cát hoặc vữa polymer 13–20 mm trước khi hoàn thiện.
- Xây gạch xi măng cốt liệu có nhanh hơn gạch đỏ không?
- Tương đương — gạch XMCL kích thước lớn hơn gạch đỏ giúp tăng năng suất 10–20%, nhưng nặng hơn (trung bình 2–4 kg/viên tùy mác) nên thao tác không nhanh bằng gạch nhẹ AAC.
Kết luận
Thi công gạch xi măng cốt liệu yêu cầu vữa xi măng–cát truyền thống (không dùng keo thin-bed), mạch vữa dày 10–15 mm và trát hoàn thiện dày hơn so với AAC. Ưu điểm là chi phí vật liệu thấp, kỹ thuật phổ thông; nhược điểm là năng suất thấp hơn và trọng lượng tường cao hơn so với tường AAC cùng độ dày.