Định nghĩa
Cát tô trát là cát xây dựng được dùng làm cốt liệu mịn trong vữa tô, vữa trát tường và trần, vữa xây gạch. Đây là cát đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật phù hợp với mục đích tạo lớp bề mặt phẳng nhẵn, có độ bám dính tốt với nền gạch, bê tông hoặc vách tường. Cát tô trát không phải là tên gọi một loại cát riêng biệt mà là tiêu chí sử dụng — loại cát nào đáp ứng yêu cầu hạt mịn và thành phần kỹ thuật phù hợp đều được gọi là cát tô trát.
Yêu cầu modun độ mịn
Cát tô trát cần có modun độ mịn Mk trong khoảng 1,5–2,5 theo thực tiễn xây dựng Việt Nam, thấp hơn yêu cầu cho bê tông (Mk ≥ 2,0). Hạt mịn hơn giúp vữa tô trát có bề mặt mịn màng, dễ hoàn thiện và ít lỗ rỗng bề mặt. Cát quá mịn (Mk < 1,5) làm vữa dẻo, co ngót nhiều và dễ nứt chân chim sau khi khô; cát quá thô (Mk > 2,5) khó tạo bề mặt phẳng và yếu bám dính.
Trong thực tế, cát dùng tô trát mặt ngoài (exterior rendering) nên có Mk ở khoảng 2,0–2,5 để đảm bảo cường độ và khả năng chống thấm; cát tô trát nội thất có thể dùng Mk thấp hơn (1,5–2,0) để đạt bề mặt mịn hơn.
Yêu cầu hàm lượng bụi, bùn, sét
TCVN 7570:2006 cho phép hàm lượng bụi, bùn, sét trong cát dùng vữa tô trát thông thường lên đến 10% — cao hơn đáng kể so với mức 3% của cát bê tông. Tuy nhiên với vữa tô trát cao cấp (hoàn thiện bề mặt chất lượng cao, dán gạch, ốp đá), hàm lượng bụi bùn sét không nên vượt 5% để đảm bảo bám dính.
Bùn sét trong giới hạn cho phép thực ra có lợi nhất định cho vữa tô trát: các hạt sét mịn lấp đầy lỗ rỗng, tăng độ dẻo của vữa tươi và cải thiện khả năng bôi trét. Tuy nhiên vượt quá ngưỡng 10% sẽ gây co ngót lớn, nứt nẻ và giảm cường độ bám dính của lớp vữa.
Thành phần hạt và đường cong cấp phối
Cát tô trát lý tưởng có thành phần hạt phân bố liên tục từ mịn đến thô trong khoảng 0–5 mm, trong đó tỷ lệ hạt mịn (dưới 0,3 mm) chiếm 20–35%. Phân bố hạt liên tục giúp lấp đầy lỗ rỗng tốt, giảm lượng xi măng cần thiết và cải thiện tính công tác của vữa.
Thành phần hạt kiểm tra theo TCVN 7572-2:2006 bằng bộ rây tiêu chuẩn gồm các lỗ 4,75; 2,36; 1,18; 0,6; 0,3; 0,15 mm. Kết quả phân tích thành phần hạt cần nằm trong đường cong bao giới hạn quy định trong TCVN 7570:2006 bảng 1.
Yêu cầu tạp chất hữu cơ
Hàm lượng tạp chất hữu cơ trong cát tô trát cần kiểm tra theo TCVN 7572-9:2006 bằng phương pháp so màu với dung dịch NaOH 3%. Dung dịch NaOH sau khi khuấy cát không được có màu sẫm hơn màu chuẩn vàng nhạt (chuẩn màu Gardner số 11). Chất hữu cơ từ rễ cây, mùn đất và bùn hữu cơ ức chế quá trình thủy hóa xi măng, làm giảm cường độ bám dính của vữa.
Yêu cầu về hàm lượng muối
Hàm lượng Cl⁻ trong cát tô trát nên dưới 0,05% để tránh đốm muối (efflorescence) trên bề mặt tường sau khi vữa khô. Muối hòa tan di chuyển ra bề mặt cùng nước bay hơi, kết tinh thành vết trắng khó xử lý thẩm mỹ. Đây là vấn đề thường gặp khi dùng cát biển chưa rửa sạch cho lớp tô trát ngoài nhà.
Hàm lượng SO₄²⁻ cũng cần kiểm soát dưới 1% — sulfat trong vữa tô trát có thể phản ứng với nhôm aluminat trong xi măng portland hoặc với Ca(OH)₂ tạo thạch cao thứ cấp, gây nứt nở và bong tróc lớp vữa theo thời gian.
Lựa chọn cát phù hợp theo ứng dụng
Vữa xây gạch thông thường (hàng trát không cần mịn): dùng cát có Mk 2,0–2,5, hàm lượng bùn sét ≤ 10%. Vữa tô trát tường nội thất: Mk 1,8–2,3, bùn sét ≤ 7%. Vữa tô trát ngoại thất và tô nền: Mk 2,0–2,5, bùn sét ≤ 5%. Vữa dán gạch và ốp đá: Mk 1,5–2,0, bùn sét ≤ 3%, Cl⁻ ≤ 0,05%.
Cát sông (cát vàng) loại trung thường đáp ứng tốt cho tô trát thông thường. Cát đen có thể dùng cho xây gạch và tô trát nội thất bình dân sau khi kiểm tra chỉ tiêu bùn sét. Cát nhân tạo (cát nghiền đá) với Mk được điều chỉnh phù hợp ngày càng được dùng nhiều hơn tại các khu vực khan hiếm cát sông.
Giá tham khảo
Cát dùng tô trát thường là cát mịn hơn, giá tương đương cát vàng thông thường (200–350 nghìn đồng/m³) hoặc thấp hơn nếu dùng cát đen chất lượng trung bình (100–200 nghìn đồng/m³). Giá tham khảo năm 2024, chưa bao gồm vận chuyển.