Đá đập là gì? Đá hộc qua nghiền, đặc điểm cạnh sắc và bám dính vữa
Đá đập (hay đá dăm, đá nghiền) là cốt liệu thô được tạo ra bằng cách đưa đá hộc qua dây chuyền máy nghiền cơ học — gồm máy nghiền hàm (jaw crusher), máy nghiền côn (cone crusher) và máy nghiền va đập (impact crusher) — để phá vỡ và giảm kích thước xuống dải hạt mong muốn. Sau nghiền, vật liệu được sàng phân loại thành các cỡ hạt riêng biệt: đá mi (<5mm), đá 1×2 (10–20mm), đá 2×4 (20–40mm). Tên gọi “đá đập” nhấn mạnh nguồn gốc từ quá trình đập nghiền cơ học, phân biệt với sỏi tự nhiên được cuốn tròn do dòng nước.
Quá trình sản xuất
Dây chuyền sản xuất đá đập điển hình gồm các công đoạn:
- Khai thác đá hộc tại mỏ bằng nổ mìn hoặc máy đào
- Vận chuyển đá hộc đến trạm nghiền bằng xe ben hoặc băng tải
- Nghiền sơ cấp: máy nghiền hàm giảm kích thước từ 50–80cm xuống 10–20cm
- Nghiền thứ cấp: máy nghiền côn hoặc máy nghiền va đập giảm tiếp xuống 5–40mm
- Sàng phân loại: sàng rung nhiều tầng tách hạt thành các cỡ 0x5 (đá mi), 10×20 (1×2), 20×40 (2×4)
- Rửa sạch (nếu cần) để giảm bụi và hàm lượng sét
Đặc điểm kỹ thuật nổi bật
Cạnh sắc và góc cạnh là đặc trưng quan trọng nhất của đá đập, trực tiếp ảnh hưởng đến cường độ bê tông. Khi bề mặt hạt đá có nhiều góc sắc và nhám, diện tích tiếp xúc thực tế với hồ xi măng tăng lên, tạo ra lực neo cơ học (mechanical interlocking) giữa hạt đá và ma trận xi măng. So với sỏi tròn nhẵn, đá đập có độ bám dính vữa cao hơn 10–20%, dẫn đến cường độ kéo uốn và cường độ chịu cắt của bê tông tốt hơn.
Chỉ tiêu kỹ thuật theo TCVN 7570:2006 và TCVN 7572:2006:
- Cường độ nén đá gốc: ≥60 MPa (bê tông mác thấp), ≥80 MPa (bê tông mác cao M300+)
- Độ nén dập (TCVN 7572-11): ≤10% (bê tông M250+), ≤12% (bê tông M150–M200)
- Mài mòn Los Angeles (TCVN 7572-12): ≤40% (bê tông kết cấu), ≤50% (bê tông khối lớn)
- Hàm lượng bụi bùn sét (TCVN 7572-8): ≤1%
- Hàm lượng hạt dẹt (TCVN 7572-13): ≤15% (bê tông cốt thép)
- Hàm lượng chất mềm yếu: ≤5%
- Khối lượng riêng: 2500–2800 kg/m³ tùy loại đá gốc
Phân biệt đá đập và đá hộc
Hai vật liệu này thuộc cùng nguồn gốc nhưng hoàn toàn khác nhau về kích thước và ứng dụng. Đá hộc có kích thước 15–50cm, không qua nghiền, dùng để xây tường chắn, kè bờ hoặc làm nguyên liệu đầu vào cho trạm nghiền. Đá đập đã được nghiền và phân loại xuống cỡ hạt 5–40mm, dùng làm cốt liệu trực tiếp trong bê tông và vữa xây dựng. Đá hộc không thể thay thế đá đập trong bê tông vì kích thước quá lớn.
Ứng dụng
Đá đập (đặc biệt đá 1×2 và đá 2×4) là cốt liệu thô tiêu chuẩn trong hầu hết các công trình bê tông Việt Nam:
- Bê tông cốt thép: kết cấu cột, dầm, sàn, móng từ M150 đến M400
- Bê tông thương phẩm (ready-mix): hầu hết nhà máy bê tông thương phẩm dùng đá đập thay vì sỏi để đảm bảo cường độ
- Bê tông đường: mặt đường bê tông xi măng yêu cầu đá đập cạnh sắc để tăng khả năng chịu mài mòn
- Vữa xây và trát: đá mi (phế phẩm nghiền) dùng trong vữa không co ngót
- Lớp móng đường: đá 0x4 từ dây chuyền nghiền dùng làm cấp phối móng đường
Giá tham khảo
Giá đá đập (đá 1×2) tại Việt Nam năm 2024 khoảng 200.000–350.000 đồng/m³ tùy vùng và chất lượng đá mỏ. Đá đập từ đá granite và basalt cứng có giá cao hơn đá vôi do độ bền tốt hơn. Giá trên mang tính tham khảo.
Lưu ý kiểm tra chất lượng
Khi nhận đá đập tại công trình, cần kiểm tra hàm lượng bụi bùn sét (TCVN 7572-8) vì đây là chỉ tiêu dễ vượt giới hạn nếu đá được khai thác vào mùa mưa hoặc bảo quản không che đậy. Hàm lượng bụi sét >1% sẽ bao bọc bề mặt hạt đá, phá vỡ liên kết giữa đá và hồ xi măng, làm giảm cường độ bê tông đáng kể. Ngoài ra, kiểm tra hàm lượng hạt dẹt bằng thước kẹp (TCVN 7572-13) để loại bỏ các lô hàng có quá nhiều hạt dạng tấm mỏng dễ gãy vỡ.