Định nghĩa
Gạch bê tông thông thường và gạch AAC (Autoclaved Aerated Concrete — bê tông khí chưng áp) đều là gạch không nung, nhưng có cấu trúc vi mô, thành phần và đặc tính kỹ thuật rất khác nhau. Gạch bê tông thông thường được đúc từ hỗn hợp xi măng, cát, đá dăm và nước, ép rung tạo cấu trúc đặc hoặc rỗng. Gạch AAC được sản xuất từ xi măng, vôi, cát nghiền mịn và bột nhôm, tạo bọt khí micro và chưng áp ở 180°C trong nồi hấp áp suất cao (autoclave) để đạt cấu trúc xốp đồng đều.
Bảng so sánh kỹ thuật chi tiết
| Tiêu chí | Gạch bê tông thông thường | Gạch AAC (bê tông khí) |
|---|---|---|
| Khối lượng thể tích | 1.800–2.000 kg/m³ | 400–700 kg/m³ (nhẹ hơn 60–70%) |
| Cường độ nén | 10–15 MPa (gạch blốc) | 2–5 MPa (AAC B2–B5 theo TCVN) |
| Hệ số dẫn nhiệt λ | 0,6–1,0 W/(m·K) | 0,10–0,20 W/(m·K) (cách nhiệt tốt hơn 5–8 lần) |
| Cách âm | 35–45 dB (tường 200mm) | 40–48 dB (tường 200mm) |
| Độ hút nước | 5–10% | 15–25% (cần phủ chống thấm) |
| Khả năng chịu lửa | 3–4 giờ (tường 200mm) | 3–4 giờ (tường 150mm, nhẹ hơn đạt cùng kết quả) |
| Độ chính xác kích thước | Sai số ±3 mm | Sai số ±1 mm (chính xác hơn, cần vữa mỏng) |
| Giá tham khảo | 3.000–5.000 đ/viên nhỏ; 15.000–25.000 đ/blốc lớn | 4.000–8.000 đ/viên; 25.000–45.000 đ/blốc lớn |
| Vữa xây | Vữa xi măng thông thường, mạch 10–15 mm | Vữa mỏng chuyên dụng (thin-bed mortar), mạch 2–3 mm |
| Gia công cơ học | Khó cắt, cần máy cắt đĩa | Dễ cắt, cưa tay, khoan, đục rãnh điện nước dễ |
| Tải trọng lên kết cấu | Cao hơn 60–70% | Giảm đáng kể tải trọng tường ngăn và bao che |
| Tiêu chuẩn áp dụng | TCVN 6477:2011 | TCVN 7959:2008; EN 771-4 |
Đặc điểm kỹ thuật gạch bê tông thông thường
Gạch bê tông thông thường (blốc bê tông) theo TCVN 6477:2011 có cường độ nén từ 10–15 MPa tùy mác, khối lượng thể tích 1.800–2.000 kg/m³ và có thể sản xuất đặc hoặc rỗng với tỷ lệ rỗng đến 60%. Kích thước blốc lớn phổ biến tại Việt Nam là 390×190×190 mm (loại 2 lỗ) và 390×190×190 mm (loại 3 lỗ), tương đương module tường 400×200mm sau khi cộng mạch vữa. Gạch bê tông thông thường chịu lực tốt hơn, dùng được cho cả tường chịu lực và tường bao khi thiết kế đúng.
Nhược điểm của gạch bê tông là hệ số dẫn nhiệt cao (0,6–1,0 W/m·K), tường xây dày sẽ nặng và tăng tải trọng lên móng, kết cấu. Khả năng cách âm của gạch bê tông thường thấp hơn AAC do mật độ cao hơn không đồng nghĩa với cách âm tốt hơn — cần tính đến khối lượng bề mặt (surface mass) và cấu trúc lỗ rỗng.
Đặc điểm kỹ thuật gạch AAC
Gạch AAC có cấu trúc vi mô gồm hàng triệu bọt khí cầu nhỏ đường kính 0,1–1,5 mm phân bố đều trong nền xi măng-canxi silicat, tạo ra khối lượng thể tích cực thấp 400–700 kg/m³ và hệ số dẫn nhiệt λ = 0,10–0,20 W/(m·K). Cường độ nén chỉ đạt 2–5 MPa (mác B2 đến B5 theo EN 771-4), giới hạn ứng dụng cho tường chịu lực trong các công trình thấp tầng hoặc tường ngăn trong các công trình cao tầng. Sai số kích thước cực nhỏ (±1 mm) cho phép xây bằng vữa mỏng chuyên dụng dày 2–3 mm, giảm cầu nhiệt qua mạch vữa.
Gạch AAC có khả năng gia công cơ học vượt trội: cưa tay, cắt thông thường, khoan và đục rãnh điện nước rất dễ dàng mà không cần thiết bị chuyên dụng. Điểm yếu lớn nhất là độ hút nước cao (15–25%) do cấu trúc xốp, đòi hỏi phải trát và phủ lớp chống thấm bề mặt đầy đủ. Các khu vực ẩm ướt như tường nhà vệ sinh, tường ngoài trời cần xử lý chống thấm nghiêm ngặt trước khi hoàn thiện.
Ứng dụng phù hợp từng loại
Gạch bê tông thông thường phù hợp cho: tường chịu lực nhà thấp tầng, móng băng và móng đơn, tường bao nhà xưởng, kho bãi, tường hầm, tường ngoài trời cần chịu lực cao. Gạch AAC phù hợp cho: tường ngăn nhà cao tầng (giảm tải trọng đáng kể), tường bao nhà dân dụng cần cách nhiệt tốt, vách ngăn văn phòng, khách sạn cần cách âm, và mọi ứng dụng yêu cầu gạch nhẹ để giảm tải trọng kết cấu.
Ưu điểm và nhược điểm
Gạch bê tông — Ưu điểm: cường độ nén cao (10–15 MPa), không cần vữa và kỹ thuật đặc biệt, giá thành thấp hơn AAC 20–40%, bền với ẩm. Nhược điểm: nặng hơn 3–4 lần so với AAC, cách nhiệt kém, mạch vữa dày tạo cầu nhiệt.
Gạch AAC — Ưu điểm: nhẹ hơn 60–70%, cách nhiệt vượt trội, cách âm tốt, dễ gia công, sai số kích thước nhỏ. Nhược điểm: cường độ nén thấp (2–5 MPa), hút nước cao (cần xử lý chống thấm), giá cao hơn, cần vữa mỏng chuyên dụng.
Những lưu ý khi sử dụng
Khi xây tường bằng gạch AAC, bắt buộc dùng vữa mỏng chuyên dụng (thin-bed mortar) có độ co ngót thấp và độ bám dính cao để đảm bảo tính năng cách nhiệt của tường (vữa thông thường tạo cầu nhiệt qua mạch dày làm giảm hiệu quả). Gạch bê tông thông thường khi dùng cho tường chịu lực cần kiểm tra mác gạch và mác vữa theo thiết kế kết cấu, thông thường cần vữa M75 trở lên.
Câu hỏi thường gặp
- Gạch AAC có dùng cho tường ngoài trời được không?
- Được, nhưng bắt buộc phải trát vữa chống thấm và sơn ngoại thất bảo vệ. Do hút nước cao (15–25%), gạch AAC không trát để lộ thiên sẽ hút nước gây mốc và giảm độ bền nhanh chóng.
- Tường AAC có cần đà giằng không?
- Có — cũng như gạch bê tông thông thường, tường AAC cần hệ thống đà giằng và cột tường theo đúng TCXD 229:1999 để đảm bảo ổn định kết cấu và phân phối tải trọng đều.
- Loại nào tiết kiệm chi phí xây dựng hơn?
- Xét tổng chi phí vòng đời: gạch AAC tiết kiệm chi phí điện năng điều hòa không khí nhờ cách nhiệt tốt hơn, có thể bù đắp cho chi phí vật liệu cao hơn trong 5–10 năm sử dụng tùy khí hậu địa phương.
- Gạch AAC B5 có thể dùng cho tường chịu lực không?
- Gạch AAC B5 (5 MPa) có thể dùng cho tường chịu lực nhà 1–2 tầng theo thiết kế kết cấu. Với nhà 3 tầng trở lên thường cần kết hợp với khung bê tông cốt thép để đảm bảo an toàn.
Kết luận
Gạch bê tông thông thường và gạch AAC là hai giải pháp không nung bổ sung cho nhau, không cạnh tranh trực tiếp. Gạch bê tông phù hợp cho tường chịu lực, kết cấu yêu cầu cường độ cao và môi trường ẩm. Gạch AAC là lựa chọn tối ưu cho tường ngăn nhà cao tầng, công trình cần cách nhiệt tốt và giảm tải trọng kết cấu. Lựa chọn đúng loại dựa trên yêu cầu chịu lực, điều kiện môi trường và hiệu quả năng lượng của công trình.