Định nghĩa
Độ hút nước gạch nung là tỷ lệ phần trăm khối lượng nước mà viên gạch hấp thụ được so với khối lượng khô, xác định theo điều kiện ngâm ngập hoàn toàn trong 24 giờ ở nhiệt độ phòng. Ký hiệu W (%), phản ánh thể tích lỗ rỗng mở — tức phần không gian trong gạch có thể thông với bên ngoài và hút nước vào.
Phân loại theo chỉ số độ hút nước
TCVN 1450:2009 quy định độ hút nước tối đa cho từng loại gạch nung. Gạch đặc: W ≤ 16%. Gạch rỗng: W ≤ 20%. Ngoài hai ngưỡng bắt buộc này, trong thực tế gạch nung thường phân nhóm theo mức hút nước để đánh giá chất lượng nung.
| Mức độ hút nước W (%) | Phân nhóm chất lượng | Nguyên nhân | Đánh giá |
|---|---|---|---|
| W < 8% | Quá thấp (nung quá lửa) | Nhiệt độ nung vượt 1050°C, đất sét bắt đầu vitreous hóa | Bề mặt nhẵn, bám vữa kém |
| W = 8–12% | Tối ưu | Nung đủ nhiệt 900–1000°C, cấu trúc vi lỗ cân bằng | Bám vữa tốt, cường độ cao |
| W = 12–16% | Chấp nhận được (gạch đặc) | Nung đủ nhưng đất sét có nhiều lỗ rỗng tự nhiên | Đạt tiêu chuẩn, cần vữa đủ nước |
| W = 16–20% | Chấp nhận được (gạch rỗng) | Lỗ rỗng thêm từ cấu trúc lỗ thiết kế | Đạt tiêu chuẩn cho gạch rỗng |
| W > 20% | Không đạt | Gạch non, nung không đủ nhiệt | Loại bỏ, không dùng kết cấu |
Phương pháp xác định độ hút nước
Thử nghiệm theo TCVN 6355-3:2009: sấy mẫu gạch đến khối lượng không đổi ở 105 ± 5°C (m₀), sau đó ngâm ngập hoàn toàn trong nước sạch ở nhiệt độ 20 ± 5°C trong 24 giờ, lấy ra lau khô bề mặt, cân lại (m₁). Độ hút nước W = (m₁ − m₀)/m₀ × 100%.
Số lượng mẫu thử: tối thiểu 5 viên/lô. Kết quả là giá trị trung bình của 5 mẫu. Loại bỏ mẫu có giá trị lệch quá 30% so với trung bình trước khi tính toán cuối cùng.
Ảnh hưởng đến công trình
Bám dính vữa: Gạch có W = 8–16% tạo điều kiện trao đổi nước lý tưởng với vữa — gạch hút một phần nước từ vữa tươi, tạo vùng liên kết cơ học (mechanical interlock) tốt ở bề mặt tiếp xúc. Gạch quá khô (W < 8%) không hút đủ nước nên vữa bị co ngót không đồng đều, giảm độ bám. Gạch quá ẩm (W > 20%) hút quá nhiều nước làm vữa mất độ dẻo trước khi bám chắc.
Khả năng chống thấm: W cao đồng nghĩa tổng thể tích lỗ rỗng lớn, giảm khả năng cản thấm của tường. Tường gạch không trát ngoài trời dùng gạch W > 16% cần xử lý chống thấm bổ sung (sơn siloxane hoặc chất chống thấm gốc xi măng) để ngăn nước mưa ngấm vào kết cấu.
Truyền nhiệt và cách nhiệt: Lỗ rỗng trong gạch chứa không khí tĩnh là môi trường cách nhiệt tốt. Gạch rỗng W = 16–20% có hệ số dẫn nhiệt λ thấp hơn gạch đặc W = 8–12%, từ đó giảm hệ số truyền nhiệt U của tường và cải thiện vi khí hậu trong nhà. Tuy nhiên khi lỗ rỗng bị bão hòa nước, λ tăng đáng kể.
Chịu băng giá: Ở vùng khí hậu có nhiệt độ âm (miền núi cao Việt Nam), nước trong lỗ rỗng gạch đông lại nở thể tích ~9%, gây áp lực phá vỡ cấu trúc gạch (frost damage). Gạch W thấp có khả năng chịu băng giá tốt hơn.
Ứng dụng theo chỉ số độ hút nước
Tường ngoài không trát: ưu tiên gạch W ≤ 12% để giảm thấm nước mưa và dễ vệ sinh bề mặt. Tường trong có trát vữa: W = 8–16% đều phù hợp, ưu tiên W = 10–14% cho bám dính tốt nhất. Gạch ốp mặt tiền (gạch thẻ không trát): chọn W ≤ 10% để bề mặt sáng, ít vết ố theo thời gian.
Những lưu ý
Trước khi xây, gạch nung cần được tưới ẩm (không ngâm) để đạt độ ẩm bề mặt khoảng 10–15%, tránh gạch quá khô hút nước vữa quá nhanh. Đây là thao tác quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến cường độ mạch vữa sau 28 ngày.
Độ hút nước không phản ánh toàn bộ chất lượng gạch — gạch nung quá lửa (W < 8%) có độ hút nước thấp nhưng giòn, dễ vỡ cạnh và bám vữa kém. Cần đánh giá kết hợp với cường độ nén và kiểm tra ngoại quan.
Câu hỏi thường gặp
- Gạch hút nước nhiều có xấu không?
- Phụ thuộc ngưỡng. W = 8–16% với gạch đặc là bình thường và phù hợp tiêu chuẩn. W > 20% là không đạt TCVN — gạch non, ít được nung, cường độ thấp. Cần phân biệt “hút nước nhiều nhưng đạt tiêu chuẩn” với “hút nước do gạch non”.
- Có cách nào giảm độ hút nước của gạch đã mua về không?
- Có thể xử lý bề mặt bằng chất thấm silane/siloxane sau khi xây và hoàn thiện, giảm hút nước bề mặt 60–80% mà không bịt kín hoàn toàn. Tuy nhiên không thể thay đổi cấu trúc lỗ rỗng bên trong viên gạch đã nung.
- Độ hút nước gạch nung và gạch bê tông khác nhau ra sao?
- Gạch bê tông thường có W = 6–12%, thấp hơn gạch nung nhờ cấu trúc lỗ rỗng kín hơn. Tuy nhiên gạch bê tông cần độ ẩm thi công cao hơn và có thể bị cacbonat hóa làm tăng W theo thời gian nếu không được bảo dưỡng đúng cách.
- Ngâm gạch trong bao lâu trước khi xây là đủ?
- Không cần ngâm hoàn toàn — chỉ cần tưới ẩm đều bề mặt trước khi xây 15–30 phút. Ngâm hoàn toàn (W bão hòa) làm gạch quá ướt, vữa tươi trượt khó chỉnh vị trí và giảm bám dính khi vữa đóng rắn.
- Kiểm tra độ hút nước tại công trường bằng cách nào?
- Phương pháp đơn giản: nhỏ vài giọt nước lên bề mặt gạch khô. Nếu nước bị hút ngay trong 30 giây là W cao (bình thường). Nếu nước đọng lại hơn 1 phút không thấm là W rất thấp, gạch có thể bị nung quá hoặc có lớp phủ tự nhiên — bám vữa kém.
Kết luận
Độ hút nước gạch nung là thông số kỹ thuật quan trọng ảnh hưởng đồng thời đến bám dính vữa, chống thấm và cách nhiệt của tường. Giá trị W = 8–16% cho gạch đặc và W ≤ 20% cho gạch rỗng theo TCVN 1450 là ngưỡng tối ưu cho thi công và sử dụng lâu dài.