Bỏ qua nội dung chính
Kiến thức vật liệu

Thử nghiệm mẫu bê tông hình trụ: Quy trình theo TCVN 3118

Thử nghiệm mẫu bê tông hình trụ là phương pháp đúc mẫu 150×300mm hoặc 100×200mm, dưỡng hộ ở 23±2°C và nén theo TCVN 3118. Hệ số quy đổi từ cường độ trụ sang khối chuẩn là 0,8.

Dùng cho mua hàng vật liệu So sánh giá, quy cách và nguồn cung trước khi chốt đơn. Gửi RFQ nhanh

Định nghĩa

Thử nghiệm mẫu bê tông hình trụ là quy trình chuẩn hóa theo TCVN 3118 để xác định cường độ nén của bê tông bằng cách đúc, dưỡng hộ và nén mẫu trụ có tỷ lệ chiều cao/đường kính bằng 2. Mẫu trụ 150×300mm là kích thước tiêu chuẩn phổ biến nhất, tương đương với mẫu trụ 6×12 inch trong hệ ASTM. Đây là phương pháp cho kết quả cường độ thực tế nhất của bê tông vì mẫu trụ hạn chế ảnh hưởng của ma sát đầu mẫu.

Kích thước mẫu và hệ số quy đổi

Trong thực tế xây dựng tại Việt Nam và châu Âu, mẫu khối 150×150×150mm là tiêu chuẩn nghiệm thu phổ biến nhất. Mẫu trụ được dùng khi thiết kế theo ASTM (dự án Mỹ, một số liên doanh nước ngoài) hoặc khi lấy mẫu lõi khoan (core) từ kết cấu hiện hữu. Hệ số quy đổi giữa các loại mẫu:

Loại mẫu Kích thước (mm) Hệ số quy đổi Ghi chú
Khối chuẩn VN/EU 150×150×150 1,00 (tham chiếu) TCVN 3118 tiêu chuẩn
Khối nhỏ 100×100×100 0,91 Dùng khi cốt liệu ≤20mm
Khối lớn 200×200×200 1,05 Cốt liệu >40mm
Trụ tiêu chuẩn 150×300 0,80 Tương đương 6×12 inch ASTM
Trụ nhỏ 100×200 0,80 Dùng khi cốt liệu ≤25mm
Lõi khoan H/D=2 75×150 hoặc 100×200 1,00 (của lõi) Cần nhân thêm hệ số lõi khoan

Quy trình đúc mẫu trụ

Chuẩn bị khuôn

Khuôn mẫu trụ (thép hoặc nhựa cứng PVC) phải sạch, không rỉ sét và được bôi dầu khuôn hoặc dầu thực vật mỏng đều bề mặt trong. Kiểm tra kích thước khuôn: đường kính dung sai ±0,5mm, chiều cao dung sai ±1mm, độ thẳng đứng thành khuôn ±0,5mm/100mm. Khuôn nhựa dùng một lần tiện lợi hơn nhưng cần kiểm tra độ cứng vững để tránh biến dạng khi đầm.

Lấy mẫu bê tông tươi

Theo TCVN 3105, mẫu phải được lấy trong vòng 5 phút sau khi bê tông được đổ vào vị trí cuối cùng, hoặc không quá 30 phút sau khi trộn. Lấy bê tông từ giữa xe bồn (không lấy từ phần đầu hay cuối bơm). Ít nhất 3 lần lấy tại các thời điểm khác nhau trong quá trình đổ rồi trộn lẫn để đảm bảo tính đại diện.

Đầm mẫu

Đổ bê tông vào khuôn thành 2 lớp đều nhau (mỗi lớp ~150mm), đầm mỗi lớp ngay sau khi đổ. Dùng đầm que (thanh thép tròn Φ16mm, dài 600mm): đầm 25 lần phân bố đều cho mỗi lớp. Với khuôn 100×200mm giảm xuống còn 16 lần đầm. Gõ nhẹ thành khuôn 10–15 cái bằng búa cao su sau mỗi lớp đầm để thoát bọt khí. Gạt phẳng mặt trên và phủ nắp khuôn hoặc túi nilon ẩm.

Dưỡng hộ mẫu

Giai đoạn tại hiện trường (0–24 giờ)

Sau khi đúc, mẫu phải được để trong bóng mát, tránh rung động, nhiệt độ môi trường 10–35°C và phủ túi nilon ẩm trong 24 giờ đầu. Không được di chuyển mẫu trước 24 giờ. Tránh để mẫu dưới ánh nắng trực tiếp hoặc trong môi trường khô hanh vì mất nước giai đoạn đầu sẽ làm giảm cường độ đáng kể.

Giai đoạn tại phòng thí nghiệm

Sau 24 giờ, tháo khuôn và chuyển ngay mẫu vào bể dưỡng hộ ẩm ở 23±2°C và độ ẩm tương đối >95%, hoặc ngâm trong nước bão hòa vôi ở 23±2°C. Duy trì điều kiện này cho đến ngày thử (3, 7 hoặc 28 ngày). Theo TCVN 3105, mẫu phải được đánh dấu số hiệu không thể xóa trước khi tháo khuôn để truy xuất nguồn gốc.

Quy trình nén mẫu theo TCVN 3118

Chuẩn bị trước khi nén

Lau khô mẫu, đo đường kính tại 3 vị trí (2 đầu và giữa) theo 2 hướng vuông góc, lấy trung bình làm đường kính tính toán. Đo chiều cao tại 4 điểm. Kiểm tra tỷ lệ H/D: phải nằm trong khoảng 1,94–2,10. Nếu mặt đầu mẫu không phẳng (lệch >0,05mm/50mm), cần mài phẳng hoặc dùng vật liệu chụp đầu (capping) bằng lưu huỳnh hoặc gạch chụp neoprene.

Đặt mẫu vào máy nén

Đặt mẫu tâm với tấm ép dưới, sai số tâm <1mm. Hạ từ từ tấm ép trên đến khi tiếp xúc đều với mặt mẫu, không được áp lực trước quá 3% tải phá hoại dự kiến. Điều chỉnh khớp nối cầu (spherical seated platen) ở tấm trên để tự cân bằng khi tiếp xúc.

Thực hiện nén

Tăng tải liên tục với tốc độ 0,5±0,25 MPa/giây (tương đương 8,8–26,5 kN/phút cho mẫu 150mm). Ghi lại tải trọng phá hoại tối đa P. Quan sát dạng phá hoại: dạng nón kép (double cone) là lý tưởng; phá hoại một bên hay tách dọc thân có thể do mặt đầu không phẳng hoặc đặt lệch tâm. Sau nén, chụp ảnh dạng phá hoại nếu có yêu cầu.

Tính toán kết quả

Cường độ nén mẫu trụ: R_trụ = 4P/(π×d²) (MPa). Cường độ quy đổi về mẫu khối chuẩn: R_khối = R_trụ / 0,80. Kết quả của tổ mẫu là trung bình cộng của 3 viên. Nếu một viên lệch >15% so với trung bình 3 viên, loại bỏ viên đó và lấy trung bình 2 viên còn lại. Nếu 2 hoặc 3 viên đều lệch, phải làm lại thử nghiệm với tổ mẫu khác.

Ứng dụng mẫu lõi khoan

Khi không có mẫu đúc hoặc kết quả mẫu đúc không đạt, phải khoan lấy mẫu lõi (concrete core) từ kết cấu. Khoan bằng mũi khoan kim cương Φ75mm hoặc 100mm, chiều sâu đủ để lấy mẫu có H/D ≥ 1,5. Vị trí khoan tránh cốt thép (dùng máy rà cốt thép trước), tránh vùng chịu lực quan trọng. Mẫu lõi cần được bão hòa nước trước khi nén và áp dụng hệ số hiệu chỉnh H/D theo bảng TCVN.

Ưu điểm / Nhược điểm

Ưu điểm của mẫu trụ: Hạn chế ảnh hưởng ma sát đầu mẫu so với mẫu khối (do tỷ lệ H/D=2, vùng trung tâm chịu ứng suất nén đơn trục thuần túy). Cường độ đo được thấp hơn nhưng phản ánh thực chất hơn. Đây là lý do kỹ sư kết cấu theo ASTM chọn mẫu trụ làm cơ sở thiết kế.

Nhược điểm: Mẫu trụ cồng kềnh hơn, cần khuôn chuyên dụng và máy nén có tấm ép hình tròn. Mặt đầu mẫu trụ dễ bị hở nếu không gạt phẳng kỹ, cần bước chụp đầu mẫu bổ sung tốn thời gian hơn so với mẫu khối.

Những hiểu lầm phổ biến

“Mẫu trụ và khối có cùng cường độ”: Không đúng. Mẫu khối 150mm cho cường độ cao hơn mẫu trụ 150×300mm khoảng 25% (hệ số 0,80) do hiệu ứng ma sát đầu mẫu hạn chế nở ngang và tăng cường độ biểu kiến. Không được so sánh trực tiếp kết quả hai loại mẫu khi không quy đổi.

“Mẫu lõi khoan cho cường độ thấp hơn là bê tông kém”: Mẫu lõi khoan thường cho cường độ thấp hơn mẫu đúc 10–20% do quá trình khoan gây vi nứt, H/D khác nhau và vị trí lấy mẫu (lõi khoan lấy từ trong kết cấu, không đại diện cho phần bề mặt). Cần áp dụng hệ số hiệu chỉnh theo tiêu chuẩn trước khi so sánh.

Câu hỏi thường gặp

Có thể dùng khuôn nhựa thay khuôn thép không?
Có thể dùng khuôn nhựa một lần nếu đủ độ cứng vững. Khuôn nhựa mềm biến dạng khi đầm chắc, làm tiết diện mẫu không tròn và ảnh hưởng đến kết quả. Nên chọn khuôn nhựa cứng dày ≥2mm từ nhà cung cấp được phê duyệt, hoặc dùng khuôn thép tái sử dụng được kiểm tra định kỳ.
Bảo dưỡng bao lâu sau khi đúc mới được tháo khuôn?
Tối thiểu 24 giờ, thông thường 24–48 giờ. Không tháo khuôn trước 20 giờ vì bê tông chưa đủ cứng và dễ bị biến dạng hoặc vỡ cạnh. Với bê tông chậm đông (xi măng xỉ, pozzolan cao) nên để 48 giờ mới tháo khuôn.
Chụp đầu mẫu (capping) cần thiết không?
Bắt buộc khi độ lệch phẳng của mặt đầu >0,05mm/50mm (đo bằng thước phẳng và căn lá). Chụp đầu bằng lưu huỳnh nóng chảy (phổ biến) hoặc vữa xi măng. Có thể dùng đĩa đệm neoprene đi kèm nếu thiết bị có trang bị. Không chụp đầu mẫu có mặt đầu không phẳng sẽ gây phá hoại sớm và kết quả thấp hơn thực tế.
Tốc độ gia tải ảnh hưởng thế nào đến kết quả?
Tốc độ gia tải nhanh hơn cho cường độ cao hơn (hiệu ứng tốc độ biến dạng). Tốc độ 0,5 MPa/s theo TCVN 3118 là tiêu chuẩn cân bằng giữa thời gian thử và tính ổn định kết quả. Gia tải nhanh gấp đôi (1 MPa/s) có thể tăng kết quả lên 3–5%.

Kết luận

Thử nghiệm mẫu bê tông hình trụ theo TCVN 3118 cung cấp dữ liệu cường độ chính xác và tin cậy, là cơ sở không thể thay thế cho nghiệm thu kết cấu bê tông cốt thép. Quy trình từ đúc mẫu đến nén thử đòi hỏi sự chính xác ở từng bước, đặc biệt là khâu dưỡng hộ ở 23±2°C và chuẩn bị mặt đầu mẫu.

Hệ số quy đổi 0,80 giữa mẫu trụ và mẫu khối cần được áp dụng nhất quán khi so sánh kết quả từ hai tiêu chuẩn khác nhau, đặc biệt quan trọng trong các dự án có chủ đầu tư quốc tế yêu cầu tiêu chuẩn ASTM song song với TCVN.