Bỏ qua nội dung chính
Kiến thức vật liệu

Gỗ Xây Dựng Là Gì

Gỗ xây dựng (structural timber) là gỗ được dùng chịu lực trong kết cấu công trình như cột, dầm, sàn và mái, phân biệt rõ với gỗ nội thất và sàn gỗ, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật về độ ẩm (MC ≤15%), cường độ chịu lực và không có khuyết tật kết cấu theo TCVN 7802.

Dùng cho mua hàng vật liệu So sánh giá, quy cách và nguồn cung trước khi chốt đơn. Gửi RFQ nhanh

Gỗ Xây Dựng Là Gì?

Gỗ xây dựng (structural timber hay structural wood) là loại gỗ được sử dụng trong kết cấu chịu lực của công trình xây dựng như cột, dầm, xà, sàn gỗ kết cấu và hệ thống mái, khác biệt hoàn toàn với gỗ nội thất và sàn gỗ hoàn thiện về yêu cầu kỹ thuật và tiêu chuẩn kiểm định. Gỗ kết cấu phải đáp ứng cường độ chịu uốn, chịu nén và chịu kéo theo tính toán thiết kế kết cấu, không chỉ yêu cầu về thẩm mỹ như gỗ nội thất. Đây là vật liệu kết cấu truyền thống và hiện đại đồng thời, đang có xu hướng phục hồi mạnh mẽ trong kiến trúc hiện đại nhờ ưu điểm carbon footprint thấp so với bê tông và thép.

Phân Biệt Gỗ Xây Dựng Với Gỗ Nội Thất Và Sàn Gỗ

Gỗ nội thất (furniture wood) ưu tiên vân đẹp, màu sắc đồng đều và bề mặt hoàn thiện cao – khuyết tật nhỏ về thẩm mỹ là vấn đề lớn nhưng cường độ chịu lực không phải yêu cầu trọng yếu. Sàn gỗ hoàn thiện (flooring) yêu cầu bề mặt hoàn thiện cao và ổn định kích thước, chịu mài mòn tốt nhưng không cần cường độ uốn và nén như gỗ kết cấu. Gỗ xây dựng ngược lại có thể chấp nhận khuyết tật thẩm mỹ nhỏ nhưng tuyệt đối không được có khuyết tật kết cấu như mắt gỗ lớn, nứt dọc thớ hay thớ chéo làm giảm cường độ chịu lực.

Phân Loại Gỗ Xây Dựng

Gỗ tự nhiên kết cấu (solid structural timber): gỗ xẻ từ cây nguyên khối, thường là gỗ nhóm II–IV (lim, chò, thông, dầu), được phân loại cường độ theo tiêu chuẩn C16, C24 (EN 338) hoặc cấp độ nhóm gỗ Việt Nam. Được dùng cho cột, dầm, rui mè nhỏ trong công trình gỗ truyền thống và nhà gỗ hiện đại quy mô vừa.

LVL (Laminated Veneer Lumber): gỗ kỹ thuật tạo từ nhiều lớp veneer mỏng dán chồng cùng chiều thớ, đạt cường độ cao và đồng đều hơn gỗ solid cùng tiết diện. LVL được dùng cho dầm, cột và thanh I-joist trong xây dựng nhà gỗ platform frame hiện đại; ít bị cong vênh và nứt hơn gỗ solid khi chịu tải.

Glulam (Glued Laminated Timber): dầm và cột tạo từ nhiều thanh gỗ xẻ dán keo epoxy kết cấu chồng theo chiều cao, cho phép tạo ra cấu kiện có chiều dài và tiết diện lớn hơn nhiều so với gỗ nguyên khối. Glulam được phân cấp GL24h đến GL36h theo EN 14080, phổ biến trong kiến trúc nhà gỗ lớn, nhà thờ, nhà thể thao và cầu gỗ.

CLT (Cross-Laminated Timber): tấm gỗ kỹ thuật tạo từ nhiều lớp ván xẻ dán chéo chiều thớ nhau theo cả hai chiều, tạo ra tấm kết cấu 2D (panel) chịu lực theo nhiều phương. CLT là vật liệu cho công trình gỗ cao tầng (mass timber buildings) – tòa nhà gỗ cao nhất thế giới đã vượt 80 tầng. Ở Việt Nam CLT còn mới nhưng đang được nghiên cứu ứng dụng trong công trình công cộng.

Cốp pha gỗ (timber formwork): gỗ xẻ và plywood dùng làm khuôn đổ bê tông – đây là ứng dụng gỗ xây dựng phổ biến nhất tại Việt Nam hiện nay. Gỗ cốp pha không cần cường độ cao bằng gỗ kết cấu vĩnh viễn nhưng phải đủ cứng để chịu áp lực bê tông tươi và tái sử dụng nhiều lần.

Yêu Cầu Kỹ Thuật Theo TCVN 7802

TCVN 7802 quy định yêu cầu kỹ thuật cho gỗ dùng trong xây dựng tại Việt Nam, bao gồm: độ ẩm gỗ khi xuất xưởng và khi lắp đặt (MC ≤15% cho môi trường trong nhà, MC ≤19% cho môi trường ngoài trời che mái), kích thước dung sai, phân loại khuyết tật (kích thước mắt gỗ tối đa, độ chéo thớ, vết nứt) và yêu cầu xử lý bảo quản chống mối mọt. Gỗ có MC vượt 19% khi lắp đặt sẽ co ngót mạnh khi khô, gây nứt, cong vênh và làm lỏng liên kết mộng hoặc bulong.

Ngoài độ ẩm, TCVN 7802 còn quy định giới hạn cho các khuyết tật kết cấu: mắt gỗ đen (dead knot) tối đa 1/4 chiều rộng tiết diện; mắt gỗ sống (live knot) tối đa 1/3 chiều rộng; thớ chéo không vượt 1:10; không có nứt xuyên suốt chiều dài và không có mục thối. Gỗ không đạt các yêu cầu này chỉ được dùng cho cấu kiện thứ yếu hoặc cốp pha, không dùng cho cấu kiện chịu lực chính.

Giá Tham Khảo Gỗ Kết Cấu Xây Dựng

Gỗ xẻ kết cấu (thông, dầu, chò) giá tham khảo khoảng 1–2 triệu đồng/m³ tùy loài và kích thước; gỗ kết cấu chất lượng cao (lim, chò nâu) khoảng 2–3 triệu đồng/m³. LVL và Glulam nhập khẩu giá tham khảo 3–6 triệu đồng/m³ tùy cấp cường độ và kích thước. Giá trên chỉ mang tính tham khảo, thực tế dao động theo thị trường và thời điểm mua.