Bỏ qua nội dung chính
Kiến thức vật liệu

Độ che phủ sơn là gì và tại sao quan trọng?

Độ che phủ (hiding power / opacity) của sơn thể hiện khả năng che kín màu nền, đo bằng contrast ratio hoặc % ẩn phủ. Bài viết Giải thích Độ che phủ là gì, hàm lượng TiO2, sự khác biệt giữa sơn mặt và sơn bong và cách chọn số lớp sơn dùng.

Dùng cho mua hàng vật liệu So sánh giá, quy cách và nguồn cung trước khi chốt đơn. Gửi RFQ nhanh

Độ che phủ sơn là gì?

Độ che phủ (hiding power hoặc opacity) là khả năng của sơn bao phủ hoàn toàn màu nền phía dưới, làm cho màu nền không còn nhìn thấy xuyên qua lớp sơn. Đây là một trong những tiêu chí quan trọng nhất khí đánh giá chất lượng sơn, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả thi công và chi phí lao đồng.

Sơn có Độ che phủ cao cho phép: đất mau mỏ trong ít lớp sơn hơn; chế kín tốt hơn các vet bản, vet năm, mau cũ; giảm công thô và chi phí lao đồng; kết quả đồng mau, dep mặt.

Cách độ và đơn vị biểu diễn Độ che phủ

Độ che phủ được xác định bằng một trong hai phương pháp chính:

  • Phương pháp Kubelka-Munk: Mỏ hình toàn học mỏ ta sự tường tác giữa ảnh sáng với các hat pigment trong lớp sơn
  • Phương pháp độ trên biển đến-trắng (contrast ratio): Sơn được quet đều lên to giây có ở vuong đến trắng xen kể, độ độ sáng phân xạ trên ở trắng (Rw) và ở đến (Rb), tính CR = Rb/Rw

Đơn vị:

  • Contrast ratio (CR): Ty le từ 0 đến 1.0. CR >= 0.98 được coi là chế phụ hoàn toàn
  • % ẩn phủ: biểu diễn % màu nền bị an (>98% = chế phụ hoàn toàn)
  • Spreading rate: m2 ma 1 lit sơn có thể chế phụ hoàn toàn ở một lớp

Hàm lượng TiO2 và Độ che phủ

Titanium dioxide (TiO2) là chất tạo độ trắng (white pigment) quan trọng nhất, đồng thời là yếu tố quyết định Độ che phủ của sơn:

  • TiO2 có chỉ số khuc xạ rất cao (~2.7), hiệu quả tấn xạ ảnh sáng tốt
  • Hàm lượng TiO2 cang cao, Độ che phủ sơn cang tốt
  • Sơn chất lượng thấp thường Thay thế một phân TiO2 bảng CaCO3 (bot đá vôi) rẻ hơn, làm giảm Độ che phủ
  • Sơn ngoài thất epoxy/PU thường có hàm lượng TiO2 cao, cho Độ che phủ tốt

Một số nha sản xuất hiện nay sử dụng công nghe TiO2 nano hóa tấn trong dùng dịch thay vi dạng bot, tầng hiệu quả tấn xạ ảnh sáng trên mới m2 bong TiO2, giảm lượng cần dùng ma vận đất Độ che phủ cao.

Độ che phủ theo loại sơn

  • Sơn mặt (flat/matte): Độ che phủ cao, bởi ít lớp. Vi có nhiều hat pigment nó nua bề mặt, phân xử khuech tấn, chế phụ tốt. Tuy nhiên khó lâu chứa.
  • Sơn bong mem (eggshell/satin): Độ che phủ trung binh đến kha, cần thêm một lớp số với sơn mặt. Có khả năng lâu chứa tốt hơn.
  • Sơn bong cao (semi-gloss, gloss): Độ che phủ thấp nhất vi mặt sơn phân xạ manh, để lo nền. Cần nhiều lớp hơn.
  • Sơn dep men (enamel): Độ che phủ thay đổi, những nhin chung cần nhiều lớp hơn sơn mặt ở cung nong độ pigment.

Số lượng lớp sơn và Độ che phủ cuoi cung

Độ che phủ cuoi cung phụ thuộc vào ca 2 yếu tố: Độ che phủ của mới lớp và số lượng lớp thi công:

  • Lớp lót (primer): Thực chất không cần Độ che phủ cao, nhiệm vụ chính là bam định, cân bằng bề mặt, chống nut nó
  • Lớp sơn phụ thứ nhất: Chế phụ khoảng 80-90% nền tùy loại sơn
  • Lớp sơn phụ thứ hai: Đất gan 100% chế phụ cho hau het các loại sơn thường mái
  • Ba lớp trợ lên: Cần thiết khí đổi mau lớn (từ dầm sáng nhất hoặc ngược lại), hoặc sơn trên bề mặt có nhiều đi diem

Chet quá ít lớp (vi đủ chỉ 1 lớp ma bộ quặng cao noi 2 lớp) không chỉ làm mau không dep mà còn giảm tuần thô lớp sơn độ bieu dày thực tế không Đạt yêu cầu. Nha sản xuất thường ghi ro số lớp tối thiểu để đất Độ che phủ trong Điều kiện tiêu chuẩn.

Lưu y thực tế khí thi công

Độ che phủ của sơn trên catalog là giá trị đo trong Điều kiện thử nghiệm tiêu chuẩn (biển độ, nhiệt độ, âm độ kiểm soát, Bề dày lớp sơn đều). Ngoài hiện trường, nhiều yếu tố ảnh hưởng:

  • Bề mặt bê tông thứ ngu nhiều sơn, cần thêm lớp hoặc tầng lượng sơn
  • Bề mặt sàn pha (chum, lom lo) tạo bong khí, làm giảm Độ che phủ cuc bộ
  • Thi công trong thời tiết nong quá (sơn khó nhanh trước khi dan đều) hay âm uot quá làm giảm bam định
  • Pha loang sơn quá mức quy định làm giảm ro ro Độ che phủ