Xà gồ C trong mái nhà xưởng nhịp vừa
Ứng dụng phổ biến nhất của xà gồ C tại Việt Nam là làm thanh đỡ mái (roof purlin) trong hệ mái nhà xưởng có nhịp khung từ 9 m đến 24 m. Với nhịp rafter tiêu chuẩn 4–6 m và khoảng cách xà gồ 1,0–1,5 m, xà gồ C150×65×2,5 (3,1 kg/m) đáp ứng tải trọng tôn lạnh đơn 0,45–0,47 mm cộng tải gió theo TCVN 2737. Xà gồ C bắt bu-lông trực tiếp vào cánh rafter qua lỗ khoan sẵn, căn chỉnh theo đường nằm ngang vuông góc với rafter.
Trong nhà xưởng đơn nhịp điển hình 12–18 m × dài 30–60 m, số lượng xà gồ C dao động 200–600 thanh, là hạng mục vật tư thép có khối lượng đáng kể. Bước xà gồ (purlin spacing) được xác định theo nhịp tính toán tôn lợp để đảm bảo tôn không võng quá L/200.
Xà gồ C làm girt tường bao (wall girt)
Xà gồ C đặt nằm ngang theo phương ngang cột, cách nhau 1,0–1,5 m theo chiều cao, để đỡ tấm tôn tường hoặc tấm sandwich tường trong nhà tiền chế. Ứng dụng này gọi là wall girt — khác với purlin mái ở chỗ xà gồ chịu tải gió nằm ngang (tải gió đẩy/hút vào tường) thay vì tải trọng đứng. Xà gồ C phù hợp làm girt vì tiết diện đối xứng dễ bắt vào cột và cánh rộng dễ bắt tôn tường.
Chiều dài xà gồ C làm girt thường bằng bước cột (thường 6 m), nối tại cột bằng bản mã thép. Tải trọng gió tính theo TCVN 2737 vùng gió II–IV, với áp lực gió thiết kế 80–160 daN/m² tùy vùng.
Xà gồ C trong nhà tiền chế thép nhẹ (pre-engineered building)
Hệ nhà tiền chế thép nhẹ (PEB) sử dụng xà gồ C làm cấu kiện thứ cấp tiêu chuẩn hóa, cung cấp cùng gói với khung chính. Nhà PEB điển hình dùng xà gồ C từ C120 đến C200 cho cả mái và tường. Toàn bộ xà gồ được cắt sẵn đúng chiều dài, khoan lỗ sẵn theo sơ đồ lắp đặt, đánh số và đóng gói theo từng trục khung — giúp thi công lắp dựng tại công trường nhanh chóng, giảm sai sót.
Xà gồ C làm vách ngăn và sàn mái nhẹ
Trong nội thất công nghiệp và thương mại, xà gồ C được dùng làm khung đứng và ngang của vách ngăn nhẹ (lightweight partition) với tấm tôn, tấm fibro xi-măng hoặc tấm thạch cao dày. Kích thước C80–C100 phổ biến cho vách ngăn nội thất không chịu lực. Ngoài ra, xà gồ C cũng dùng làm dầm đỡ sàn mái nhẹ (mezzanine floor) trong kho bãi và nhà xưởng có tầng lửng, với tiết diện C200–C300 tùy tải trọng.
Xà gồ C trong kết cấu mái nhà dân dụng và thương mại
Với nhà dân dụng mái tôn, nhà hàng, siêu thị và nhà kho nhỏ, xà gồ C80–C150 là lựa chọn phổ biến do dễ mua, dễ thi công và phù hợp nhịp 3–5 m. Xà gồ C dùng kết hợp với khung thép vuông hộp hoặc thép góc, bắt vít tự khoan hoặc bu-lông M10–M12. Trọng lượng nhẹ (C100×50×2,0 ≈ 2,1 kg/m) giúp giảm tải lên kết cấu bên dưới.
Xà gồ C trong công trình nông nghiệp và tạm thời
Nhà kính (greenhouse), nhà nuôi trồng, chuồng trại và công trình tạm dùng xà gồ C rộng rãi vì chi phí thấp và lắp dựng nhanh. Trong ứng dụng này, xà gồ thường được sơn phủ chống rỉ đơn giản hoặc mạ kẽm điện phân để giảm chi phí, với tuổi thọ thiết kế thường dưới 15 năm.
Yêu cầu kỹ thuật khi lắp đặt xà gồ C
- Giằng ngang (anti-sag rod / lateral brace): Bắt buộc dùng cho nhịp >5 m hoặc mái dốc >5° để ngăn xà gồ bị xoắn và mất ổn định ngang. Thông thường dùng thanh tròn Φ10–Φ12 mm căng xuyên qua bụng xà gồ tại giữa nhịp.
- Bu-lông gá: M12–M16 cường độ cao Gr 8.8; lỗ khoan đúng vị trí theo bản vẽ.
- Khe hở nhiệt: Cho phép giãn nở dọc trục, đặc biệt khi chiều dài nhà >30 m.
- Kiểm tra độ thẳng: Xà gồ C cần được căn chỉnh đúng phương nằm ngang trước khi bắt chặt bu-lông.
Câu hỏi thường gặp
- Xà gồ C bắt vào rafter bằng gì?
- Thường dùng bu-lông M12–M16 qua lỗ khoan sẵn trên cánh dưới xà gồ và cánh rafter. Đối với nhà dân nhỏ, có thể dùng vít tự khoan (self-drilling screw) Φ6,3–Φ8 mm với chiều dài phù hợp.
- Khoảng cách xà gồ C tối đa bao nhiêu để tôn 0,47 mm không bị võng?
- Tôn lạnh 0,47 mm thường đảm bảo nhịp chịu tải gió không quá 1,2–1,4 m. Với tải tuyết hoặc người đi bảo trì, giảm còn 0,8–1,0 m. Kiểm tra nhà sản xuất tôn để có bảng tải trọng chính xác.
- Có thể dùng xà gồ C cũ tái sử dụng không?
- Được, nếu kiểm tra không bị ăn mòn sâu (gỉ >20% tiết diện), không bị biến dạng cục bộ cánh hoặc bụng, và mối hàn/lỗ bu-lông cũ không làm yếu tiết diện. Nên thử nghiệm trước khi dùng cho kết cấu chịu lực chính.